1 hour and 4 minutes reading time (12851 words)

Dẫn vào Tân Ước

18
PrevNext
Page 1 of 2

I. THIÊN CHÚA NÓI VỚI CON NGƯỜI

Con người thời nay ngây ngất trước những vật thể vô cùng nhỏ và vô cùng lớn trong vũ trụ. Họ nghiên cứu những hạt tử nhỏ bé nhất và dự đoán được tuổi của vũ trụ. Ðối với nhiều người, vũ trụ mang dấu vết của Thiên Chúa, đó là nơi Thiên Chúa tỏ mình cho con người (x. Rm 1,19-20). Nhưng hình ảnh Thiên Chúa ta thấy qua vũ trụ còn nhiều nét chưa rõ ràng. Thiên Chúa khôn ngoan và nhân hậu không chỉ bằng lòng với việc tỏ mình qua tự nhiên, Người còn muốn ngõ lời với con người đã được dựng nên theo hình ảnh Người và đã gieo vào lòng họ nỗi khao khát khôn nguôi là được nhìn thấy Thiên Chúa.

Ðể tỏ mình cho toàn thể nhân loại, Người đã chọn một nhóm người để làm thành một dân tộc, dân Ítraen. Người huấn luyện họ để họ cảm nhận được tình thương của Người và đáp lại bằng một lòng trung tín sắt son. Người đã đi vào dòng lịch sử của dân Ítraen để mặc khải bằng Lời và bằng các biến cố. Thưở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã nói với cha ông chúng ta qua các ngôn sứ (Dt.1,1). Thiên Chúa đã nói với con người qua con người và bằng ngôn ngữ loài người. Những nghiên cứu mới về ngữ học trong các thập niên vừa qua đã làm nổi bật tầm quan trọng của động từ "nói". Thật vậy, khi khám phá ra những giá trị độc đáo của ngôn ngữ và những chiều kích phong phú của nó, con người mới thấy sự khôn ngoan của Thiên Chúa khi Người muốn mạc khải bằng ngôn ngữ loài người.

Thiên Chúa đã nói qua miệng các ngôn sứ, nhưng những lời đó lại nhằm chuẩn bị cho Ngôi Lời, Con của Người xuất hiện vào thời viên mãn. Ngay cả những biến cố trong lịch sử dân Ítraen, tuy có giá trị và thế đứng riêng biệt, nhưng lại hướng về cái sắp đến. Chính Thiên Chúa đã đặt trong mỗi biến cố một mầm mống siêu vượt chính mình, để chuẩn bị cho Biến cố của mọi biến cố là Ðức Kitô. Dường như, nhờ một thời gian dài suy tư, chính người Do-thái cũng nhận ra điều đó. Họ thấy rằng những biến cố quá khứ chỉ là sự biểu lộ một phần ý định của Thiên Chúa ở một cấp độ bất toàn và càng lúc Người càng mặc khải trọn vẹn hơn ý định của Người. Biến cố xuất Aicập hướng đến việc giải phóng con người khỏi ách nô lệ tội lỗi. Giao Ước Xinai bằng máu những con bò hướng đến một giao ước mới được ghi khắc trong lòng người (Gr. 31,31-34). Ðất hứa Canaan chỉ là hình bóng mờ nhạt của Thành Giêrusalem mới. Ngay cả những nhân vất trong lịch sử như vua, ngôn sứ, thủ lãnh, tư tế cũng xuất hiện như những người dọn đường cho một Ðấng khác cao vượt hơn họ.

II. CÁC SÁCH TÂN ƯỚCVÀ NHỮNG THỂ VĂN CHÍNH

Trong lịch sử dân Ítraen, Thiên Chúa đã lập giao ước với tổ phụ Ápraham (St. 15,18) và qua ông Môsê, Người đã lập giao ước với cả dân tộc này (Xh. 24,8). Trong niềm tin vào Ðức Giêsu Kitô, các nhà thần học Kitô giáo đầu tiên đều có chung một xác tín, đó là Ðức Giêsu khai mở giai đoạn chung cục của lịch sử cứu độ. Nơi Người mọi lời hứa với cha ông được thành tựu, và niềm hy vọng từ bao đời nay được Thiên Chúa cho thành hiện thực. Một giao ước mới đã thành hình, giao ước trong máu Ðức Kitô (1 Cr. 11,25), đổ ra một lần là đủ (Dt. 9,23-26). Thánh Phaolô đã gọi luật Môsê là giao ước cũ (2 Cr 3,14). Giao ước cũ và giao ước mới có một sự duy nhất, vì do cùng một Thiên Chúa là tác giả. Giao ước cũ đạt được sự hoàn tất viên mãn của mình nơi Ðức Giêsu.

Các Kitô hữu thế hệ đầu tiên, cũng như các người Dothái bây giờ, coi Kinh Thánh là lời của Thiên Chúa; nhưng Kinh Thánh lúc đó mới chỉ là phần mà ngày nay chúng ta gọi là Cựu Ước thôi. Phải đợi một thời gian lâu sau, những sách mà nay ta gọi là các sách Tân Ước mới được nhìn nhận là Lời Chúa, ngang hàng với các sách khác của Cựu Ước. Chúng ta sẽ bàn về diễn tiến của việc xác định thư quy trong phần sau.

Tập sách Tân Ước gồm 27 cuốn, được viết bằng tiếng Hylạp phổ thông trong thời bấy giờ. tuy gọi là cuốn, nhưng thực ra có những thư chỉ dài khoảng một hai trang (2 Gioan, 3 Gioan, Philêmôn). Ta có thể tạm chia các sách Tân Ước làm bốn loại, dựa trên bốn thể văn khác nhau.

1. Thể văn TIN MỪNG

Bốn sách đầu tiên của bộ Tân Ước được viết theo thể văn này, đó là các sách Tin Mừng (còn gọi là sách Phúc Âm) theo thánh Matthêu, thánh Máccô, thánh Luca và thánh Gioan. "trong toàn bộ Kinh Thánh và thậm chí ngay cả Tân Ước nữa, các sách Tin Mừng có tính ưu việt trên hết, vì những sách đó là những chứng từ tuyệt vời về cuộc đời và lời giáo huấn của Ngôi Lời nhập thể, Ðấng Cứu Ðộ chúng ta" (MK 18). Công đồng Vaticanô II đã coi các sách Tin Mừng như những chứng từ thành văn của các Tông Ðồ hay của những vị đã sống bên các Tông Ðồ ghi chép lại do ơn linh hứng của Thánh Thần. Ðó là một chứng từ đức tin mang hai đặc điểm sau đây. Trước hết, chứng từ này được viết lại sau những biến cố nền tảng của Kitô giáo: phục sinh, thăng thiên và hiện xuống. Các biến cố này như những luồng sáng chiếu dọi vào toàn bộ cuộc đời Ðức Giêsu, khiến cho các Tông Ðồ có một hiểu biết thâm trầm hơn về các việc làm và lời nói của Người. Kế đó, chứng từ này mang đậm nét đặc thù của từng tác giả. Khi soạn thảo các sách Tin Mừng, mỗi tác giả đã phải chọn lựa những yếu tố đã được truyền khẩu hay được ghi lại thành văn, cộng thêm những hiểu biết riêng của mình mà làm nên một tác phẩm. Tác phẩm này được viết cho một giáo đoàn nhất định và với một mục đích nhất định.

Có một câu hỏi được đặt ra một cách gay gắt trong suốt thế kỷ XX, đó là câu hỏi về lịch sử tính của các sách Tin Mừng, hay nói khác đi: những gì các sách Tin Mừng kể lại có thật không? Công đồng Vaticanô II đã long trọng khẳng định lịch sử tính của các sách Tin Mừng: các sách này trung thành truyền lại những gì Ðức Giêsu thực sự đã làm và đã dạy, các tác giả thánh luôn luôn truyền đạt cho chúng ta những điều chân thật về Ðức Giêsu (x. MK 19). Nhưng vì các sách Tin Mừng là những chứng từ đức tin, nên ta đừng hiểu lịch sử tính ở đây theo nghĩa là các tác giả đã ghi âm hay chụp lại những gì Ðức Giêsu đã nói và làm vào chính lúc xảy ra. Các sách Tin Mừng còn có một bề dày phong phú hơn nhiều. Ðó vừa là chứng từ về Ðức Giêsu lịch sử, vừa là chứng từ về niềm tin của các Tông Ðồ sau phục sinh, và cũng là công trình soạn thảo của các tác giả thánh.

Vậy thể văn Tin Mừng là một thể văn đặc biệt, nó có lịch sử tính nhưng lại không phải là một bài phóng sự hay tường thuật tại chỗ những gì đang xảy ra. Các sách Tin Mừng được viết sau những năm dài nghiền ngẫm, cầu nguyện và sống, không phải của một cá nhân, mà thường là của cả một cộng đoàn Giáo Hội địa phương. Bốn sách Tin Mừng là bốn cái nhìn về cùng một thực tại là Ðức Giêsu, bốn cái nhìn khác nhau nhưng bổ túc cho nhau, để ta có một cái nhìn trọn vẹn về Con Thiên Chúa.

2. Thể văn LỊCH SỬ TÔN GIÁO

Sách Công Vụ Tông Ðồ thuộc thể văn này. Sách này kể lại buổi đầu của Giáo Hội và công cuộc loan báo Tin Mừng cho các dân tộc. Ðây không phải là một tài liệu thuần túy lịch sử như kiểu hồi ký hay niên sử, nhưng cũng không phải là một sách giáo lý thuần túy, vì mang nhiều yếu tố lịch sử. Có thể nói Công Vụ là một lịch sử nhằm giáo huấn. Tác giả Luca đã viết sách này cho những tín hữu gốc dân ngoại để nói lên rằng sứ điệp cứu độ được gởi đến cho mọi người, trước hết là người Dothái, sau là dân ngoại. Các diễn từ chiếm gần một phần ba sách Công Vụ, dĩ nhiên đây không phải là nguyên văn các bài giảng, bởi vì chúng quá ngắn, lắm khi lại quá giống nhau. Thánh Luca đã soạn ra những diễn từ này dựa trên những yếu tố trong các bài giảng của các Tông Ðồ. Còn các trình thuật cũng được ghi lại một cách khá tự do vì thời xưa các sử gia không quá bận tâm đến tính chính xác của biến cố xảy ra. Luca cho chúng ta một hình ảnh tốt đẹp về Giáo Hội sơ khai, ông cố tránh nhắc đến những khía cạnh kém đẹp của Giáo Hội, như vụ bất đồng ý kiến giữa hai Tông Ðồ Phêrô và Phaolô ở Antiôkhia (Gl 2,11-14) chẳng hạn. Thế nên có lẽ phải coi những bản tóm lược ở Cv 2,42-47; 4,32-35; 5,12-16 là những bức họa lý tưởng hơn là một mô tả về thực tại của Giáo Hội ở Giêrusalem.

3. Thể văn THƯ TÔN GIÁO CHÍNH THỨC

Tân Ước có 21 lá thư, một số lớn của thánh Phaolô, số còn lại của các vị Tông Ðồ khác. Ðây là những lá thư thực sự vì được gửi đến cho những cá nhân như Timôthê, Titô, Philêmôn, hay cho những Giáo Hội ở đó đây trong đế quốc Rôma. Các thư phát xuất từ những hoàn cảnh cụ thể, nhằm đáp ứng những nhu cầu cụ thể như cũng cố niềm tin, khích lệ trong cơn bách hại, xác định những điểm giáo lý, uốn nắn những lệch lạc, ngăn ngừa những sai lầm... Các thư này thường được đem đọc công khai trong buổi họp cộng đoàn tín hữu (1 Tx 5,27), và cũng có thể được trao đổi giữa các Giáo Hội (Cl 4,16). Vì các thư trong Tân Ước không phải chỉ là những thư thuần túy riêng tư, cũng không phải là những luận thư (épitre) theo kiểu của các triết gia Hylạp, nên chúng ta có thể coi chúng thuộc về thể văn "thư tôn giáo chính thức". Ðây là tài liệu do một nhóm hay một vị có thế giá gửi cách chính thức và công khai cho những cá nhân hay cho những cộng đoàn nhất định, nhằm một mục đích chủ yếu có tính tôn giáo.

Như các sách Tin Mừng, các thư được soạn thảo do ơn linh hứng của Chúa Thánh thần. Tuy không có những trình thuật về đức Giêsu nhưng các thư lại "trình bày càng ngày càng rõ hơn giáo lý đích thực của Người" (MK 20). Có thể nói các thư phản ánh việc sống lời Chúa của các cộng đoàn dân Chúa ở thế kỷ đầu, với những khó khăn riêng; tuy nhiên ta vẫn có thể khám phá thấy nơi các thư một sứ điệp luôn mới mẻ cho đức tin của mình, miễn là biết thích ứng sứ điệp đó cho thời đại mình đang sống.

4. Thể văn KHẢI HUYỀN

Sách cuối cùng trong bộ Tân Ước là sách Khải Huyền. Ðây là một thể văn thịnh hành trong văn chương Dothái trong khoảng thời gian hai thế kỷ trước đến một thế kỷ sau CN. Thể văn này sử dụng nhiều hình ảnh, con số, tên gọi và màu sắc mang ý nghĩa tượng trưng. Ðể hiểu được ý nghĩa của chúng, ta cần quy chiếu về Cựu Ước và các sách Khải Huyền khác, chứ không nên hiểu theo nghĩa đen. Sách Khải Huyền được viết để củng cố niềm hy vọng các tín hữu đang bị bách hại vì đức tin. Tác giả sách này đã phác họa một loạt những thị kiến có tính tượng trưng để mô tả cuộc giao tranh trong vũ trụ giữa sự thiện và sự ác, giữa Ðức Kitô và Xatan, cuối cùng Ðức Kitô và các thánh sẽ toàn thắng. Ðó là động lực giúp người tín hữu vững tâm đợi chờ sự can thiệp của Thiên Chúa. Như thế sách Khải Huyền vẫn có giá trị cho mọi thời, vì lịch sử vẫn còn là cuộc tranh chấp cho đến ngày Ðức Kitô trở lại. Tuy nhiên chúng ta phải tránh thái độ coi sách này như một thứ "Sấm Trạng Trình" và đem áp dụng vào những biến cố lịch sử đang hay sẽ xảy ra trên thế giới.

III. THƯ QUY TÂN ƯỚC VÀ CÁC SÁCH NGỤY THƯ

Như đã nói ở trên, các Kitô hữu thời sơ khai coi bộ sách thánh của Dothái giáo là bộ Kinh Thánh duy nhất mà họ tôn kính. Trong khoảng một thế kỷ đầu của Kitô giáo (30-130 sao CN), bộ sách này không hề được gọi là các sách Cựu Ước, bởi lẽ bộ Tân Ước chưa thành hình. Ngày nay, các Kitô hữu, dù là công giáo, chính thống hay tin lành, đều nhìn nhận 27 sách trong bộ Tân Ước là sách thánh, là Kinh Thánh, có giá trị như hay thậm chí còn hơn cả bộ sách thánh mà người Dothái quen gọi là "Luật và các ngôn sứ". Ðể Giáo Hội Ðông Phương và Tây Phương đi tới việc nhìn nhận này, cần cả một thời gian dài mấy thế kỷ. Chúng ta không ghi lại đây những diễn biến phức tạp của lịch sử, chỉ phác thảo một vài nét chính.

Trên hết là vị trí trung tâm của Ðức Giêsu trong Kitô giáo. Tất cả đều quy về Người, những lời nói và việc làm của Người bày tỏ khuôn mặt của chính Thiên Chúa ở một mức độ siêu việt chưa từng thấy. Sau khi Ðức Giêsu về trời, nhịp cầu duy nhất nối liền các Kitô hữu với Ðức Giêsu là các Tông Ðồ, những chứng nhân về toàn bộ cuộc đời trần thế của Người. Các Tông Ðồ chủ yếu làm chứng bằng lời rao giảng (Cv 6,2-4; Rm 10,14-15), nhờ đó đức tin được khơi dậy và nuôi dưỡng trong lòng các tín hữu.

Có hai yếu tố khiến cho các Kitô hữu nghĩ đến chuyện phải viết lại những chứng từ về Ðức Giêsu. Trước hết là sự bành trướng của Kitô giáo sau quyết định của hội nghị ở Giêrusalem năm 49 (Cv 15). Cả một thế giới bao la của dân ngoại mở ra, Giáo Hội không còn chỉ đóng khung ở quanh Giêrusalem, nhưng đã vươn tới những miền xa tắp. Các Tông Ðồ phải liên tục đi nhiều nơi nên việc liên lạc bằng thư từ với các Giáo Hội trở nên cần thiết. Các thư của thánh Phaolô là một thí dụ về việc này. Kế đó là việc các Tông Ðồ dần dần trở nên già yếu và qua đời. Làm sao bảo tồn được những chứng từ về lời nói và việc làm của Ðức Giêsu? Hơn nữa, nhu cầu huấn giáo cũng đòi hỏi việc sắp xếp lại những chứng từ truyền khẩu cho có hệ thống. Thế nên đã có những sưu tập, truyền khẩu cũng như thành văn; đây là những chất liệu cho các tác giả viết Tin Mừng sau này.

Trong khoảng thời gian hơn một thế kỷ, đã xuất hiện nhiều tác phẩm của các Kitô hữu. Vấn đề được đặt ra rõ nét từ giữa thế kỷ II là vấn đề xác định xem đâu là danh sách những tác phẩm cần được bảo tồn và coi như sách thánh, nói cách khác, đó là xác định thư quy của Tân Ước. Có một vài tiêu chuẩn hướng dẫn công việc này:

  • Tác phẩm phải bắt nguồn từ các Tông Ðồ thì mới được nhận vào thư quy. Thư gửi tín hữu Dothái và sách Khải Huyền mãi đến thế kỷ III vẫn còn trong vòng tranh luận, bởi lẽ có nơi không tin thánh Phaolô và thánh Gioan là tác giả của chúng. Ngày nay người ta hiểu "tác giả" ở đây không nhất thiết phải là người đã cầm bút để viết nên tác phẩm, nhưng có thể chỉ là người đã có liên hệ và ảnh hưởng trên tác phẩm. Dù sao, đối với Giáo Hội các thế kỷ đầu, tông đồ tính của tác phẩm là điều quan trọng. Như các ngôn sứ xưa đã loan báo Ðức Giêsu nhờ ơn linh hứng (2 Pr 1,20-21), thì Nhóm Mười Hai (và Phaolô) giờ đây cũng làm chứng về sự hoàn tất viên mãn, nhờ cùng một ơn linh hứng đó (Cv 2,17-18).
  • Phần lớn các sách Tân Ước đều được viết cho những cộng đoàn Kitô hữu nhất định, nên lịch sử và tầm quan trọng của một cộng đoàn cũng giúp nhiều cho việc bảo tồn một tác phẩm và thậm chí cho việc nhận tác phẩm đó vào thư quy. Dường như Tin Mừng Matthêu được gửi cho các cộng đoàn ở Xyria, và họ đã làm tốt nhiệm vụ này. Các Giáo Hội ở Hylạp và Tiểu Á có lẽ đã bảo trì các tác phẩm của thánh Phaolô và thánh Gioan. Giáo Hội ở Rôma đã bảo trì Tin Mừng Máccô và thư gửi tín hữu Rôma.
  • Tác phẩm phải phù hợp với quy luật đức tin. Chẳng hạn như Tin Mừng của thánh Phêrô không được đưa vào thư quy vì có thể dẫn đến lạc giáo.

Sau đây là một vài thời điểm đặc biệt trong lịch sử hình thành thư quy:

  • Ðần tiên rất có thể là tập thư Phaolô đã được gom lại và sử dụng trong Giáo Hội. Từ đầu thế kỷ II, nhiều tác giả Kitô giáo cho thấy họ đã biết đến một số lớn các thư Phaolô, có lẽ là nhờ các thư này được thu thập và phổ biến dựa trên uy tín lẫy lừng của ngài. Tuy nhiên, trước đầu thế kỷ II, không có dấu hiệu cho thấy các thư này được coi là sách thánh như các sách Cựu Ước. Dần dần toàn bộ thư Phaolô được các Giáo Hội ở thế kỷ II công nhận, vì có tông đồ tính.
  • Ở thế kỷ I, các Tin Mừng chiếm chỗ đứng mờ nhạt so với các thư Phaolô. Trước năm 140, không thấy có tài liệu nào nói đến tập sách Tin Mừng, nhưng từ nửa sau thế kỷ II có nhiều chứng từ hơn. Thánh Giúttinô nói đến sự kiện các Tin Mừng được đọc vào Chúa Nhật, được coi như tác phẩm của các Tông Ðồ (hay những đồ đệ của các ngài) và được dùng như Kinh Thánh. Càng lúc bốn Tin Mừng càng tỏ ra trổi vượt hơn các sách khác vì tính chân thực trong những lời chứng về Ðức Giêsu. Có lẽ khoảng năm 170, bốn Tin Mừng đã được nhận vào thư quy.
  • Một thời điểm quan trọng trong lịch sử thư quy là chọn lựa của ông Mácxion (14). Ông này gạt bỏ toàn bộ Cựu Ước, chỉ chấp nhận một Tin Mừng duy nhất (bản ngắn của Luca) và những thư của một Tông Ðồ duy nhất (10 thư của Phaolô). Thái độ của Mácxion rõ ràng là ngược với Giáo Hội xưa nay, nên nó đã gây ra những phản ứng mạnh mẽ, nhất là từ thánh Giúttinô và thánh Irênê. Các Giáo Hội địa phương bắt đầu đưa ra thư quy riêng của mình.
  • Vào đầu thế kỷ III, khắp nơi đều nhìn nhận bốn sách Tin Mừng, 13 thư của Phaolô (trong đó không có thư Dothái), Công Vụ, thư thứ nhất của thánh Phêrô và phần nào thư thứ nhất của thánh Gioan nữa. Các sách còn lại chưa đạt được sự nhất trí trọn vẹn. Các cuộc tranh luận còn kéo dài.
  • Dần dần có một sự nhất trí. Ở Ðông Phương, năm 367, thánh Athanaxiô, giám mục Alêxanria chấp nhận thư quy gồm 27 cuốn như ta ngày nay. Ở Tây Phương, "sắc lệnh của đức Ðamaxô" do công nghị Rôma công bố (năm 382) cũng chấp nhận như vậy. Thư quy coi như đã được ấn định vào cuối thế kỷ IV. Năm 1546, công đồng Trentô đã tái khẳng định thư quy của toàn bộ Kinh Thánh.

Ta thấy một tác phẩm được nhận vào thư quy vì nó là bản văn được linh hứng, nhưng ta chỉ biết chắc chắn là nó được linh hứng khi nó được nhận vào thư quy. Giáo Hội trước khi nhận vào đã phải suy nghĩ về truyền thống được coi là bắt nguồn từ các Tông Ðồ, đó là tiêu chuẩn để chọn lựa.

Khi thư quy được xác định, một số lớn tác phẩm không được kể vào thư quy này. trong đó có cả những tác phẩm nổi tiếng, thậm chí đã từng được một số vị có thẩm quyền công nhận là sách thánh, như sách Giáo Huấn của mười hai Tông Ðồ (cuối thế kỷ I hay đầu thế kỷ II), Người Mục Tử của Hécmát (đầu thế kỷ II, Rôma), thư của Banaba, hai thư của Cơlêmentê. Các tác phẩm này được bảo tồn cẩn thận và ngày nay vẫn được xếp vào các tác phẩm có giá trị của Giáo Hội buổi đầu.

Nhưng cũng có những tác phẩm khác bị loại bỏ, không được Giáo Hội dùng làm nền tảng cho giáo lý của mình, và vì thế không được dùng trong phụng vụ, ta quen gọi là ngụy thư. Ngụy thư có hình thức và nội dung khá gần với các sách Tân Ước. Tuy nhiên cũng phải nhận là một số ngụy thư có chứa đựng những sai lạc về giáo lý, thí dụ nghiêng về ảo thân thuyết (docétisme, thuyết này không nhìn nhận nhân tính của Ðức Kitô) hay bài bác hôn nhân. Phần nhiều các ngụy thư đều ẩn dưới danh nghĩa các vị Tông đồ.

Ta có thể chia các ngụy thư thành bốn loại như các sách trong Tân Ước:

  • Các sách Tin Mừng: Tin Mừng của thánh Phêrô (tìm thấy một mảnh ở Aicập vào năm 1886), Tin Mừng của thánh Tôma, nay được chia làm 114 câu trong đó có 79 câu gần giống với Tin Mừng Nhất Lãm... Các Tin Mừng này ít nhiều mang dấu vết của phái ngộ giáo (gnosticisme), phái này cho rằng chỉ có việc giác ngộ mới đưa con người đến ơn cứu độ. Ngoài ra còn có Tin Mừng thời thơ ấu của thánh Tôma và Tiền Tin Mừng của thánh Giacôbê, hai tác phẩm này mang nhiều yếu tố huyền hoặc, lạ lùng.
  • Các sách Công Vụ: Công Vụ của thánh Anrê chịu ảnh hưởng của ngộ giáo qua việc lên án hôn nhân và nhấn mạnh đến bản tính thiêng liêng của con người. Công vụ của thánh Gioan, Công Vụ của thánh Phaolô, Công Vụ của thánh Phêrô, Công Vụ của thánh Tôma. Nói chung tác giả các sách Công Vụ thích khai thác những yếu tố kỳ diệu, lạ lùng trong cuộc đời vị Tông Ðồ mà họ muốn ca ngợi.
  • Các thư: Thư thứ ba gửi tín hữu Côrintô, Thư gửi tín hữu ở Laođikia, Thư của các Tông Ðồ. Nội dung của các thư này không có gì đặc sắc (trừ Thư của các Tông Ðồ) và giống với những bài luận bàn về thần học hơn là những lá thư.
  • Các sách khải huyền: sách Khải Huyền của thánh Phêrô kể lại việc Ðức Giêsu chỉ cho các môn đệ thấy những miền ở thế giới bên kia, chỗ ở của kẻ dữ và hình phạt họ phải chịu. Còn sách Khải Huyền của thánh Phaolô lại xoay quanh thị kiến của thánh nhân được nói đến ở 2 Cr 12,2.
IV. BẢN VĂN TÂN ƯỚCVÀ KHOA PHÊ BÌNH BẢN VĂN

Hiên nay chúng ta không còn giữ được một bản văn Kinh Thánh nào do chính tác giả viết, hay nói khác đi, bản văn gốc không còn nữa. Tuy nhiên chúng ta lại có rất nhiều bản chép Tân Ước bằng tiếng Hylạp và những bản dịch Tân Ước cổ bằng nhiều thứ tiếng khác nhau. Ðây là những bản chép tay thuộc nhiều thế kỷ trước khi xuất hiện kỹ thuật in. Các bản chép này hiện đang nằm rải rác ở các thư viện trên thế giới.

Các bản chép tay Tân Ước được viết trên giấy cói hay giấy da.

Bản P52 (Papyrus Rylands) chỉ gồm Ga 18,31-33.37-38. Ðây là bản chép Tân Ước cổ nhất hiện có. Nó được chép khoảng năm 135, nay được lưu trữ tại thư viện John Rylands (Anh).

Bản P46, khoảng năm 200, gồm có các thư của thánh Phaolô, trừ những thư mục vụ. Bản này gồm 86 tờ giấy cói được đóng lại thành tập (codex).

Bản Vaticanô (Codex Vaticanus) mang ký hiệu là B, được chép vào thế kỷ IV. Bản này bằng tiếng Hylạp gồm cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, nhưng Tân Ước thì bị thất lạc phần cuối. Hiện được lưu trữ tại thư viện Vaticanô.

Bản Xinai (Codex Sinaiticus), thế kỷ IV, tìm thấy tại Tu viện thánh Catarina ở núi Xinai vào năm 1844. Bản này cũng bằng tiếng Hylạp gồm một phần Cựu Ước và toàn bộ Tân Ước, thậm chí còn thêm Thư của Banaba và một phần tác phẩm Người Mục Tử của Hécmát. Bản này mang ký hiệu là S, hiện để tại Luân Ðôn.

  • Giấy cói làm từ cây papyrus, một loại cây cói hay sậy mọc ở các vùng đầm lầy bên Aicập, cao từ 2 đến 3 mét. Trong hai thế kỷ đầu, Tân Ước thường được chép trên loại giấy này. Tuy không bên bằng giấy da, nhưng nhờ khí hậu khô nóng ở Aicập, loại giấy này vẫn còn tồn tại. Hiện nay còn chừng 90 bản giấy cói, đa số gốc Aicập, chép trong khoảng giữa thế kỷ II và thế kỷ VIII. Ðây chỉ là những mảnh của Tân Ước nhưng lại có giá trị cao, vì có những bản giấy cói cổ hơn những bản giấy da lâu đời nhất. Các bản giấy cói được đánh số và mang ký hiệu P. Sau đây là một vài bản quan trọng:
  • Giấy da làm bằng da, được sử dụng nhiều từ thế kỷ II sau CN. Bản văn Tân Ước đuọc chép trên giấy da dưới dạng chữ hoa (majuscules) hay chữ thảo (minuscules). Như giấy cói, các tờ giấy da có thể được đóng thành tập (codex) hay nối lại với nhau thành một miếng dài rồi cuộn lại (volumen). Sau đây là một vài tập chữ hoa quan trọng:

Ðây là hai bản nổi tiếng hơn cả trong số khoảng 250 bản chữ hoa chép trên giấy da, trong khoảng từ thế kỷ III đến thế kỷ X.

Như đã nói ở trên, các bản chép tay hiện có thể chỉ là những bản sao hay bản dịch từ bản gốc; chúng cũng có thể chỉ là những bản chép lại từ các bản sao. Khi đối chiếu những bản chép tay Tân Ước hiện có với nhau, ta thấy chúng có khá nhiều điểm dị biệt, cũng gọi là dị bản. Phần lớn là những dị biệt nhỏ liên quan đến các chi tiết văn phạm, từ vựng hay trật tự các từ trong câu. Tuy nhiên cũng có những dị biệt quan trọng, có ảnh hưởng đến ý nghĩa của cả đoạn.

Các dị biệt trên đây bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Trước hết, bản văn gốc của Tân Ước đã được các ký lục sao đi chép lại nhiều lần trong bao thế kỷ. Khi sao chép, khó tránh khỏi những sai sót vì bất cẩn hay vì thiếu khả năng. Thêm vào đó có những ký lục, do ý hướng tốt, đã đôi khi sửa đổi bản văn mẫu mà họ cho là viết sai, viết không hay, hoặc thiếu rõ ràng về mặt thần học. Ngoài ra, khi dùng các trích đoạn Tân Ước trong phụng vụ, người ta cũng thường làm cho chúng trở nên dễ đọc hơn, hay dung hòa chúng với bản văn song song của một tác giả khác trong Tân Ước.

Như thế Lời Chúa trong bộ sách Tân Ước cũng chịu một số phận như những tài liệu cổ khác, đó là bị biến đổi ít nhiều qua dòng thời gian. Nhiêm vụ của khoa phê bình bản văn là phục chế, tái tạo lại hình thức nguyên thủy của bản văn gốc bằng cách dựa vào những bản chép tay hiện có.

1. trước hết là thu thập mọi bản Tân Ước chép tay, cả những bản Hylạp lẫn những bản dịch cổ bằng tiếng Latinh, Xyria, hay Aicập v.v... Ðôi khi có những bản dịch lại sát với bản gốc hơn cả bản Xinai hay bản Vaticanô, bởi lẽ chúng được dịch từ các bản Hylạp còn cổ hơn hai bản này.

Các giáo phụ thường trích dẫn Tân Ước trong các tác phẩm của mình. Những trích dẫn này cũng có thể giúp khoa phê bình tìm lại được bản văn Tân Ước ở tình trạng rất gần với bản gốc.

Tuy nhiên, dựa vào các bản dịch cổ hay các trích dẫn của các giáo phụ để mong tìm lại bản văn gốc là một việc tế nhị. Ðọc một từ trong bản dịch, chúng ta không dễ biết chắc được từ tương ứng bằng tiếng Hylạp trong bản gốc. Còn những trích dẫn thì quá ngắn và nhất là các giáo phụ lại thường trích dẫn dựa theo trí nhớ chứ không trích nguyên văn.

2. Sau khi đã thu thập các tài liệu trên đây, khoa phê bình bản văn sẽ cố gắng sắp xếp lại để tiện dụng cho việc tiếp cận với nguyên bản. Các nhà chuyên môn nhận thấy rằng các bản chép tay hiện có tuy nhiều, nhưng có thể chia thành một số nhóm chính. Mỗi nhóm tượng trưng cho một loại bản văn mà ta có thể xác định được nguồn gốc của nó một cách tương đối chắc chắn. Sau đây là ba loại bản văn chính yếu:

  • Bản văn "Aicập" hay còn gọi là bản văn Alêxanria, vì nó bắt nguồn từ vùng Alêxanria bên Aicập, vào trước năm 300. Các bản chữ hoa quan trọng nhất như bản Xinai (S) và bản Vaticanô (B) đều thuộc loại bản văn này. Từ nửa sau thế kỷ XIX, ở Tây Phương, các ấn bản Tân Ước thường dựa theo loại bản văn này. Dù có những khiếm khuyết, nhưng nó được các nhà chuyên môn nhìn nhận là loại bản văn có giá trị cao, ngắn gọn và ít có những sửa đổi hay dung hòa.
  • Bản văn "Xyria", còn gọi là bản văn Antiôkhia hay bản Phổ Thông. Người ta thường cho rằng nó bắt nguồn từ vùng Antiôkhia vào khoảng năm 300. Nhiều bản chữ hoa thuộc thế kỷ IX và thế kỷ X, cũng như phần lớn các bản chữ thảo thuộc loại bản văn này. Ở Ðông Phương ngày nay, bản văn này vẫn được sử dụng. Còn ở Tây Phương, các ấn bản đầu tiên của Tân Ước đều đã dựa trên bản văn này, nó được coi như bản văn được công nhận (textus receptus). Mãi đến thế kỷ XIX, nó mới nhường chỗ cho bản văn Alêxanria nói trên. Ðặc tính của loại bản văn này là trau chuốt và sáng sủa, có những sửa đổi vừa phải, có lẽ để thích nghi với việc dùng trong phụng vụ. Loại bản văn này không có giá trị phê bình cao như loại trên.
  • Bản văn "Tây Phương". Bản văn này được gọi như vậy từ thế kỷ XVIII, thì thoạt tiên người ta biết đến nó qua những bản dịch Latinh cổ (nửa sau thế kỷ II) hay những bản song ngữ Hylạp - Latinh (như bản Bêda, ký hiệu là D, khoảng thế kỷ IV). Nhưng giờ đây người ta khám phá thấy nó cũng đã có mặt ở Ðông Phương từ lâu. Bản văn này thiên về việc giải thích dài dòng để làm rõ nghĩa, và hay sửa đổi bản gốc cho có sự tương hợp giữa các đoạn song song.

Vậy vấn đề là phải phân loại và lượng giá các bản văn, cũng như xác định vị trí của chúng trong không gian và thời gian. Nhờ đó ta có thể nhận ra đâu là những hình thức cổ nhất của bản văn, nghĩa là những hình thức dễ gần với bản gốc hơn.

3. Công việc trên đây là nhiệm vụ của khoa phê bình ngoại tại (critique externe). Khoa này còn cần sự trợ giúp của khoa phê bình nội tại nữa (critique interne). Trước những dị bản, tức là những chỗ mà các bản chép không đồng nhất với nhau, khoa này sẽ giúp ta chọn dị bản nào có khả năng gần với bản gốc hơn, nhờ một số quy tắc. Sau đây là một vài quy tắc tiêu biểu:

  • Chọn bản nào khó hiểu hơn, miễn là nó không mâu thuẫn với văn mạch, vì người chép thường có khuynh hướng làm cho bản văn trở nên dễ hiểu hơn.
  • Chọn dị bản nào ngắn hơn, vì người chép có khuynh hướng giải thích dài dòng.
  • Chọn dị bản phù hợp với ngôn ngữ và tư tưởng của tác giả hơn.
  • Trong các bản văn song song, chọn dị bản nào còn giữ lại được nét riêng, hơn là dị bản đã bị dung hòa.

Những quy tắc trên đây không có tính tuyệt đối, nên cần áp dụng cách uyển chuyển và thận trọng, nhất là khi quy tắc này dẫn đến một kết luận trái với quy tắc kia. Ðể tránh rơi vào thái độ chủ quan, ta chỉ nên dùng khoa này như một bổ túc cho khoa phê bình đạt được trong khoảng 150 năm qua, hiện nay bản văn của Tân Ước có thể coi như đã được xác định.



PrevNext
Chương 01
Chương 28
 

Comments

No comments made yet. Be the first to submit a comment
Already Registered? Login Here
Guest
Wednesday, 20 January 2021

By accepting you will be accessing a service provided by a third-party external to https://thuvienchua.com/

BÀI MỚI ĐĂNG

06 March 2020
Giải Đáp
Hỏi: Bí tích Thánh Thể là gì? Thưa: Bí tích Thánh Thể là chính hy tế Mình và Máu của Chúa Giêsu, mà Người đã thiết lập để lưu tồn hy tế thập giá của Người qua bao thế kỷ cho đến khi Người lại đến. Như thế, Người ủy thác cho Hội thánh việc tưởng nhớ c...

RANDOM

19 January 2019
Thư Do Thái
2. Phụng tự, thánh điện và địa vị trung gian của Ðức Kitô cao trọng hơn Chức tư tế mới và thánh điện mới (1) Ðiểm chủ yếu trong những điều đang nói ở đây là điểm này: chúng ta có một vị Thượng Tế cao ...
Nếu trang web có hữu ích cho quý vị, xin hãy chia sẻ với bạn bè. © 2018 Thư Viện Chúa. Công Giáo